|
Tôi 37 tuổi. Trước đây đi xét nghiệm, kết quả dương tính với viêm gan siêu vi B, đã được bác sĩ điều trị một đợt và thấy bệnh có tiến triển tốt nhưng không biết đã khỏi hẳn chưa. Nghe nói bị viêm gan siêu vi B thì không thể khỏi hẳn. Vậy xin hỏi tôi có cần điều trị thêm không? Nếu có thì điều trị thế nào? Hiện bệnh này có thể chữa khỏi không? Nguyễn Văn An (Hà Nội) Tôi 37 tuổi. Trước đây đi xét nghiệm, kết quả dương tính với viêm gan siêu vi B, đã được bác sĩ điều trị một đợt và thấy bệnh có tiến triển tốt nhưng không biết đã khỏi hẳn chưa. Nghe nói bị viêm gan siêu vi B thì không thể khỏi hẳn. Vậy xin hỏi tôi có cần điều trị thêm không? Nếu có thì điều trị thế nào? Hiện bệnh này có thể chữa khỏi không? Nguyễn Văn An (Hà Nội) Viêm gan siêu vi B đang là mối quan tâm của cộng đồng. Bệnh nguy hiểm vì nó diễn biến thầm lặng (80% người nhiễm siêu vi B không có triệu chứng), mức độ lây lan rất cao (gấp 100 lần siêu vi gây bệnh AIDS) hậu quả lâu dài và nặng nề, có thể gây viêm gan mãn, xơ gan và ung thư gan. Sau khi nhiễm, viêm gan siêu vi B sẽ tiến triển thế nào? Trên 90% số người mắc viêm gan siêu vi B tự khỏi sau vài tuần đến vài tháng (không quá 6 tháng). Khi bệnh khỏi cơ thể đã có kháng thể để không bị tái nhiễm khi gặp lại siêu vi B. Có dưới 10% sau khi bị nhiễm siêu vi B đã không thải loại được siêu vi B ra khỏi cơ thể và trở thành người mang siêu vi B mạn tính. Người mang siêu vi B mạn tính có 2 nguy cơ là truyền bệnh cho người khác và bản thân có nguy cơ diễn biến sang viêm gan mạn tính. Trong số bệnh nhân viêm gan mạn tính có 1-12% chuyển sang xơ gan còn đa số vẫn sống khỏe, không có biểu hiện gì. Rất ít bệnh nhân bộc phát viêm gan tối cấp dẫn tới hôn mê do suy gan cấp và tử vong. Khi nào cần phải điều trị? Cho đến nay chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị viêm gan siêu vi B cấp và cũng không có loại thuốc nào ngăn chặn được quá trình tiến triển của bệnh. Việc điều trị viêm gan cấp chủ yếu là chế độ dinh dưỡng nghỉ ngơi, theo dõi, phòng ngừa biến chứng. Là người khỏe mạnh mang siêu vi không cần điều trị thuốc. Chỉ trong trường hợp viêm gan mạn tính mới dùng thuốc đặc hiệu chống sự nhân đôi của siêu vi, không cần thiết phải uống thuốc bổ gan, vitamin nếu cơ thể vẫn bình thường. Không nên gây mệt thêm cho gan khi gan đang bị bệnh, càng sử dụng ít thuốc càng tốt. Thuốc đặc hiệu chống sự nhân đôi của siêu vi Interferon: Là một protein tự nhiên được sản xuất ra trong cơ thể để kích thích và thúc đẩy sự hoạt động của hệ thống miễn dịch chống lại sự tấn công của siêu vi. Interferon - alpha là một chất tổng hợp nhân tạo có tính chất như interferon tự nhiên dùng để điều trị viêm gan mãn siêu vi B hiện nay. Thuốc được dùng theo đường tiêm dưới da, mỗi tuần tiêm 3 ống từ 6 tháng đến 1 năm. Thuốc chỉ có hiệu quả gây bất hoạt siêu vi ở 1/3 số bệnh nhân được điều trị, lại gây nhiều tác dụng phụ như mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, rụng tóc, giảm tiểu cầu, thậm chí có thể gây thiếu mãu võng mạc, điếc và giá thành lại rất cao (450.000đ/ống) nên người ta cố gắng tìm thêm những thuốc mới, ít tác dụng phụ hơn mà lại là thuốc uống, tiện dụng hơn. Lamivudin là một trong những thuốc đó (biệt dược là zeffix) nguyên là thuốc điều trị HIV, tình cờ người ta phát hiện lamivudin cũng có tác dụng trên siêu vi B. Lamivudin là một chất tổng hợp có thể can thiệp, ức chế sự sinh sản nhân đôi của siêu vi, làm giảm nồng độ HBV-DNA. Chất này có độ dung nạp cao, ít tác dụng phụ, lại duy nhất dùng đường uống 1 viên mỗi ngày, giá thành rẻ 35.000đ/viên. Lamivudin được coi là thuốc điều trị viêm gan siêu vi B thích hợp với đại đa số bệnh nhân. Liều lượng 100mg/viên/ngày. Trẻ em 3mg/kg/ngày Lamivudin làm giãn nhanh chóng ADN của siêu vi. Tuy vậy hạn chế của thuốc là phải dùng thời gian dài mới ức chế được sự nhân đôi của siêu vi. Nếu điều trị ngắn ngày thì bệnh tái trở lại nhanh. Còn dùng lâu lại xuất hiện tình trạng kháng thuốc. Qua thống kê cho thấy hiện tượng kháng thuốc này là 14% ở bệnh nhân điều trị trên 1 năm và 50% ở bệnh nhân điều trị trên 3 năm. Nhưng có cái lợi là thời gian điều trị dài cũng làm tăng cơ hội chuyển dạng HBeAg đang dương tính chuyển sang âm tính và xuất hiện kháng thể anti-HBeAg là yếu tố tiên lượng tốt. Vì thế nhiều nhà khoa học vẫn khuyên điều trị bằng lamivudin mặc dù có sự xuất hiện của chủng kháng thuốc. Với liều lượng 100mg/viên/ngày thì thời gian ngắn nhất cũng không dưới 52 tuần để tránh tái phát. Ở Trung Quốc sau 3 năm điều trị tỷ lệ đáp ứng là 40% và sau khi ngưng thuốc 1 năm kết quả này duy trì được 80%. Dù rằng tỷ lệ kháng thuốc tăng theo thời gian điều trị nhưng tỷ lệ chuyển dạng HBeAg dương tính sang âm tính cũng tỷ lệ thuận với thời gian điều trị. Đối với tình trạng kháng thuốc có thể sử dụng adefovir và loại mới nhất được áp dụng là baraclude (entecavir). Khi nào thì ngưng thuốc? Xét nghiệm HBeAg (6 tháng 1 lần) và men gan ALT (3 tháng 1 lần). Nếu HBeAg (+) men ALT bình thường, tiếp tục điều trị. Nếu HBeAg (-) men ALT bình thường, xem xét khả năng ngưng thuốc. Nhưng trước khi quyết định ngừng thuốc cần xét nghiệm anti-HBe và HBV-ADN. Nếu anti HBe dương tính tồn tại kéo dài và HBV-ADN âm tính thì có thể ngừng thuốc. Sau đó 6 tháng đến 1 năm xét nghiệm, kiểm tra lại để sớm phát hiện bệnh tái phát. Tác giả: BS. Phạm Thị Thục Nguồn: Báo sức khỏe và đời sống số 825
Các Tin Vừa Đăng
Các Tin Đã Đăng
|